.png)
Phản ứng của Trung Quốc trước cuộc chiến tranh Iran đã chuyển hướng từ đảm bảo an ninh cung ứng sang bảo vệ biên lợi nhuận và cơ hội thận trọng. Vào đầu tháng 3, sau các cuộc tấn công của Mỹ–Israel vào Iran và việc đóng cửa Eo biển Hormuz, trọng tâm ưu tiên là cung ứng cho thị trường nội địa. Các nhà lọc dầu bị từ chối yêu cầu rút kho dầu thô và thay vào đó được chỉ đạo cắt giảm công suất vận hành, tập trung vào nhiên liệu vận tải thay vì hóa chất. Xuất khẩu sản phẩm dầu sạch bị tạm dừng vào đầu tháng 3 và thực tế bị cấm hoàn toàn vào cuối tháng, gây thiệt hại cho nhiều quốc gia châu Á. Tồn kho dầu thô trong nội địa tiếp tục tích lũy tăng.
Về phía khí đốt, đất nước bước vào mùa đông với lượng dự trữ dồi dào nhưng trải qua một mùa ôn hòa. Mặc dù nhu cầu khí đốt công nghiệp có dấu hiệu phục hồi ban đầu, các hộ tiêu thụ nhanh chóng cắt giảm tiếp xúc với LNG (khí tự nhiên hóa lỏng), thay vào đó dựa vào khí đường ống và khí sản xuất nội địa. Một số đơn vị chuyển trở lại sử dụng than trong khi những đơn vị khác đang chuẩn bị ứng phó với nhu cầu yếu hơn khi chiến tranh lan tỏa ảnh hưởng qua nền kinh tế toàn cầu và tác động đến xuất khẩu của Trung Quốc. Than đóng vai trò dự phòng: sản lượng Quý I duy trì ở mức cao, công suất nhiệt điện mới đi vào vận hành, và nguồn điện than đã phát huy vai trò bù đắp khi sản lượng điện gió tháng 3 giảm mạnh và thị trường LNG thắt chặt nguồn cung. Các tỉnh ven biển đón thời tiết ấm hơn đang tăng cường tích trữ than.
Với nhu cầu khí đốt nội địa yếu ớt, các doanh nghiệp Trung Quốc đã bán lại các lô hàng LNG vào thị trường châu Á, hưởng lợi từ giá giao ngay JKM (Japan Korea Marker – chỉ số giá LNG giao ngay khu vực Đông Bắc Á) ở mức cao. Các giao dịch tái xuất này chậm lại vào tháng 4 khi nhu cầu nội địa tăng trở lại, nhưng các nhà mua sẽ cố tránh nhập khẩu LNG giao ngay trong những tháng tới.
Diễn biến ngược lại đang xảy ra trong lĩnh vực dầu mỏ. Chi phí tích trữ bắt đầu tạo áp lực. Vào tháng 4, khi có thêm sự rõ ràng về quy mô thiếu hụt nguồn cung và các tuyến vận chuyển dầu thô mới qua Yanbu, Nga và Đại Tây Dương (cộng thêm một lượng nhỏ dầu Iran qua Hormuz), Bắc Kinh tỏ ra tự tin hơn trong việc quản lý cú sốc này và nay cũng đang tìm cách tối thiểu hóa chi phí. Các nhà lọc dầu độc lập tại Sơn Đông được chỉ đạo duy trì công suất vận hành ở mức của năm 2024–25, đồng thời được cấp hạn ngạch nhập khẩu dầu thô có thời hạn và ưu đãi hoãn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt sản phẩm. Họ có thể giải phóng các lô dầu chiết khấu mua trước khủng hoảng để cung cấp cho thị trường sản phẩm nội địa.
Trong khi đó, các tập đoàn năng lượng nhà nước lớn đang tối ưu hóa danh mục dầu thô. Sau khi được phép khai thác kho thương mại, họ bán lại các lô hàng Tây Phi và Guyana đắt hơn vào thị trường châu Âu, đồng thời tiếp nhận dầu thô Nga và dầu Iran chưa bị chế tài với giá thấp hơn. Lệnh cấm xuất khẩu sản phẩm tháng 3, trong khi đảm bảo nguồn cung, đã khiến các bể chứa tràn đầy và biên lợi nhuận âm. Nhu cầu nội địa cũng suy yếu. Bắc Kinh hiện cho phép xuất khẩu có mục tiêu đến "các nước láng giềng đang gặp khó khăn" và được cho là đang chuẩn bị nối lại xuất khẩu diện rộng hơn vào tháng 5 đối với cả sản phẩm dầu lẫn hóa chất. Tuy nhiên, ngay khi thị trường nội địa nới lỏng, nó có thể thắt chặt trở lại. Các nhà lọc dầu độc lập đang gặp khó trong việc duy trì công suất vận hành, còn các tập đoàn lớn đang dịch chuyển trở lại sang hóa chất, nơi biên lợi nhuận nội địa đã được cải thiện.
Bất chấp những xáo trộn, cuộc chiến tranh đang xác nhận tính đúng đắn của chiến lược an ninh năng lượng của Trung Quốc và các giả định nền tảng của Kế hoạch 5 năm lần thứ 15 (KH5N). Bản kế hoạch, được soạn thảo trước chiến tranh, kêu gọi tăng cường sản xuất và dự trữ trong nước (bao gồm khoáng sản chiến lược), nhấn mạnh đường ống Sức mạnh Siberia 2, đề xuất đỉnh tiêu thụ dầu và than, đồng thời khuyến khích tiếp tục tăng trưởng điện gió và điện mặt trời, kết hợp với đầu tư nâng cấp lưới điện. KH5N tập trung vào khả năng phục hồi hệ thống, tự lực về năng lượng, đa dạng hóa nguồn cung và nhiên liệu cũng như thống trị về mặt công nghệ. Tóm lại, Trung Quốc đang hướng đến trở thành siêu cường năng lượng.
Một lượng than bổ sung sẽ được chấp nhận, với than chuyển hóa hóa chất (coal-to-chemicals) là lĩnh vực hưởng lợi rõ ràng. Tuy nhiên, các tuyên bố chính sách gần đây tái khẳng định cam kết của Bắc Kinh đối với lộ trình khử carbon. Việc đẩy nhanh điện khí hóa và triển khai năng lượng tái tạo trong ngắn hạn sẽ rất khó khăn, trong bối cảnh tốc độ triển khai đã ở mức chóng mặt trong những năm gần đây cùng với các nỗ lực cải cách giá điện và kiểm soát tình trạng dư thừa công suất phát điện. Nhưng định hướng phát triển vẫn hướng đến một hệ thống năng lượng sạch hơn, điện khí hóa cao hơn và hiệu quả chi phí tốt hơn.
Trong các hoạt động đối ngoại, Bắc Kinh thể hiện sự thận trọng. Các nhà ngoại giao Trung Quốc đã tích cực tiếp xúc qua đường dây điện thoại, nhưng các nhà lãnh đạo cấp cao vẫn tránh xa khu vực Vịnh Ba Tư. Các nhà lãnh đạo châu Á và châu Âu đã đến Bắc Kinh tìm kiếm xuất khẩu sản phẩm dầu và ra về với các thỏa thuận công nghệ năng lượng sạch. Trên bối cảnh đó, cả Washington lẫn Bắc Kinh đều tỏ ra muốn giữ chuyến thăm của Tổng thống Trump đúng lộ trình. Nhưng liệu năng lượng có thể là nhân tố ổn định? Trung Quốc đang tiếp nhận khối lượng kỷ lục ethane và LPG (khí dầu mỏ hóa lỏng) của Mỹ trong khi phần lớn né tránh dầu thô và LNG Mỹ, đồng thời điều hướng ứng phó với các lệnh chế tài đối với Iran. Chuyến thăm, nếu vẫn diễn ra, sẽ là phép thử cho thấy chủ nghĩa thực dụng phân ngăn có thể cùng tồn tại với sự cạnh tranh chiến lược ngày càng sâu sắc đến mức nào.
Nguồn: OIES
Viết bình luận
Các trường bắt buộc được đánh dấu *